0963 63 60 66

Luật lao động và những vấn đề liên quan

Khóa đào tạo quản trị tài chính thực hành
Quản trị tài chính – sách lược cho sự tồn tại của doanh nghiệp
23 June, 2020
OCD viết Báo cáo ngành AR – VR & Giáo dục trực tuyến cho NIPA
Dự án xây dựng Báo cáo ngành AR – VR & Giáo dục trực tuyến cho NIPA
30 June, 2020

Luật lao động bao gồm tổng thể các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và những quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Hãy cùng tìm hiểu về luật lao động và những vấn đề liên quan trong bài viết dưới đây.

✅Luật lao động là gì?

Luật lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.

✅Đối tượng của luật lao động

Nhóm quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động.

Quan hệ giữa con người với con người trong quá trình lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ chính bản thân và xã hội gọi là quan hệ lao động. Tuy nhiên trong số các quan hệ lao động tồn tại trong đời sống xã hội, luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động.

Nhóm quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động. Gồm:

  • Quan hệ về việc làm và học nghề.
  • Quan hệ giữa công đoàn với tư cách là người đại diện cho tập thể người lao động với người sử dụng lao động.
  • Quan hệ về BHXH.
  • Quan hệ về bồi thường thiệt hại vật chất.
  • Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động.
  •  Quan hệ về quản lý, thanh tra lao động.

✅Phương pháp điều chỉnh luật lao động

Luật lao động sử dụng tổng hợp 3 loại phương pháp.

Phương pháp thoả thuận: Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong luật lao động. Bằng phương pháp này đã tạo nên quan hệ lao động cá nhân (trên cơ sỏ hợp đồng lao động) và quan hệ lao động tập thể (trên cơ sở thoả ước lao động tập thể).

Phương pháp mệnh lệnh: Là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức quản lý và điều hành lao động. Chúng thường được dùng để xác định nghĩa vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động. Bên sử dụng lao động có thể đặt ra nội qui, quy chế buộc người lao động phải chấp hành. Trong luật lao động phương pháp mệnh lệnh thể hiện quyền uy của người sử dụng lao động đối với người lao động (khác phương pháp mệnh lệnh trong luật hành chính – Thể hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực quản lý).

Sự tham gia của công đoàn vào việc điều chỉnh những quan hệ là đối tượng của luật lao động. Đây là phương pháp đặc thù của ngành luật lao động. Phương pháp này được sử dụng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình lao động có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

✅Một số chế định cơ bản của luật lao động

Hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Hình thức của hợp đồng lao động

  • Bằng văn bản.
  • Bằng miệng đối với công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới 3 tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình.

Các loại hợp đồng lao động

  • Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: Là hợp đồng mà trong đó 2 bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
  • Hợp đồng lao động xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó 2 bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
  • Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo 1 công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng.

Chủ thể của hợp đồng lao động

– Người lao động:

  •  Đủ 15 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động
  • Dưới 15 tuổi khi giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý của cha mẹ, người đỡ đầu.

– Người sử dụng lao động: Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thuê mướn sử dụng và trả công lao động.

Sự chấm dứt hợp đồng lao động

Sự chấm dứt hợp đồng không hợp pháp

Sự chấm dứt hợp đồng không hợp pháp xảy ra khi các bên bãi ước không có lí do chính đáng, không đúng pháp luật.

Chế tài của pháp luật trong trường hợp bãi ước bất hợp pháp:

+ Nếu người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường trên họ vẫn có quyền hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật. (Đối với lao động làm việc thường xuyên từ 1 năm trở lên: trợ cấp thôi việc là mỗi năm làm việc là 1/2 tháng lương cộng phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường và trợ cấp thôi việc thì 2 bên thoả thuận với nhau về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

+ Nếu người lao động chấm dứt hợp đồng bất hợp pháp thì họ bị tước quyền hưởng trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương nếu có.

Lưu ý:

Trong trường hợp vi phạm về thời hạn báo trước bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia 1 khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Sự chấm dứt hợp pháp hợp đồng lao động

* Các trường hợp hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt bao gồm:

  • Hợp đồng hết thời hạn, công việc thoả thuận đã được hoàn thành.
  • Hai bên cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
  • Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị hình phạt buộc người đó không được tiếp tục làm công việc cũ.
  • Người lao động bị mất tích theo tuyên bố của toà án.
  • Người lao động bị chết.

* Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng:

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động:

+ Đối với hợp đồng không xác định thời hạn người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần có các lý do luật định nhưng phải báo trước tối thiểu là 45 ngày; Người lao động bị ốm đau tai nạn đã điều trị 6 tháng liền thì phải báo trước ít nhất là 3 ngày.

+ Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, người. lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong các trường hợp sau:

– Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng.

– Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng;

– Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động.

– Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng.

– Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước.

– Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc.

– Người lao động bị ốm đau tai nạn đã điều trị 3 tháng liền đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và 1/4 thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo 1 công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

+ Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

– Đối với các trường hợp 1,2,3,7: ít nhất là 3 ngày.

– Đối với các trường hợp 4,5: Ít nhất là 30 ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Ít nhất là 3 ngày nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

– Đối với trường hợp 6: tuỳ thuộc thời hạn do thầy thuốc chỉ định.

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

+ Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau:

– Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

– Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.

– Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị 6 tháng liền và người lao động làm việc theo hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất địnhcó thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động. Khi người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;

– Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của chính phủ mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất giảm chỗ làm việc.

– Doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan chấm dứt hoạt động.

Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo điểm 1,2,3 người sử dụng lao động phải trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất trí 2 bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, ban chấp hành công đoàn cơ sỏ và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do phápluật quy định.

+ Thời hạn báo trước (trừ trường hợp 2):

– Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn.

– Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

– Ít nhất 3 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu:

– Người lao động ốm đau, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang nghỉ và điều trị theo yêu cầu của thầy thuốc (Trừ trường hợp 3,4 trên).

– Nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ khác được người sử dụng lao động cho phép.

– Lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản nuôi con dưới 12 tháng tuổi trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

– Chuyển sang làm công việc khác

Khi gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác trái nghề nhưng không quá 60 ngày trong một năm. Tuy nhiên người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất là 3 ngày và phải báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ và giới tính của người lao động. Người lao động được trả lương theo công việc mới, nếu thấp hơn mức cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương của công việc mới ít nhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ, nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định.

✅Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

Kỷ luật lao động

a. Khái niệm:Là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động.

b. Hình thức kỷ luật:Người vi phạm kỷ luật lao động, tuỳ theo mức độ phạm lỗi, bị xử lý theo một trong những hình thức sau:

– Khiển trách

– Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng hoặc cách chức;

– Sa thải: áp dụng trong các trường hợp sau:

+ Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vikhác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp.

+ Người lao động bị xử lý kỷ luật, kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

+ Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 1 năm mà không có lý do chính đáng.

Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao động phải báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động Tỉnh, thành phố trực thuộc TW biết.

Khi bị sa thải thì người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc trừ trường hợp 3.

Trách nhiệm vật chất

Là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vô ý mất mát, hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp.

✅Bảo hiểm xã hội

Khái niệm (Điều 140 BLLĐ)

Bảo hiểm xã hội là sự trợ giúp về mặt vật chất cần thiết được pháp luật quy định nhằm giúp phục hồi nhanh chóng sức khoẻ, duy trì sức lao động, Xã hội, góp phần giảm bớt những khó khăn về kinh tế, ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp phải những biến cố hiểm nghèo dẫn đến bị giảm hay mất nguồn thu nhập trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác.

Các loại BHXH

Có hai loại hình bảo hiểm xã hội là BHXH bắt buộc (áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên) và tự nguyện (Nơi sử dụng dưới 10 lao động, công việc dưới thời hạn 3 tháng, mùa vụ) để hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội (nguồn trợ cấp).

Mức đóng góp: Người sử dụng lao động hàng tháng phải đóng 15% tổng quỹ tiền lương (10% chi cho hưu trí, tử tuất; 5% ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) người lao động phải đóng 5% tiền lương, ngoài ra còn có sự đóng góp và hỗ trợ của nhà nước; các nguồn khác. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo vệ.

Ở nước ta hiện đang thực hiện 5 chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, bao gồm: trợ cấp ốm đau, trợ cấp khi bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thai sản, hưu trí và tử tuất.

Các chế độ bảo hiểm xã hội

a. Chế độ trợ cấp ốm đau

* Điều kiện hưởng:

– Người lao động nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn rủi ro mà có xác nhận của tổ chức y tế do Bộ y tế quy định được hưởng chế độ trợ cấp ốm đau.

– Không được hưởng trợ cấp ốm đau: Tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc dùng chất ma tuý.

* Thời gian nghỉ:

– Trong điều kiện lao động bình thường:

+ 30 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 15 năm trở xuống.

+ 40 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm.

+ 50 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

– Làm nghề hoặc công việc năng nhọc, độc hại, làm việc ở nơi có phụ cấp Khu vực hệ số từ 0,7 trở lên:

+ 40 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 15 năm trở xuống.

+ 50 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm.

+ 60 ngày trong 1 năm nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

– Mắc bệnh dài ngày tối đa 180 ngày trong 1 năm không phân biệt thời gian đóng BHXH, nếu tiếp tục điều trị thì mức hưởng thấp là 70% (Nếu có 30 năm đóng BHXH); 65% (Nếu có dưới 30 năm đóng BHXH).

– Con thứ nhất, thứ hai (Kể cả con nuôi) dưới 7 tuổi ốm đau, có yêu cầu của tổ chức y tế phải nghỉ việc để chăm sóc.

Thời gian: 20 ngày trong 1 năm – Con dưới 3 tuổi.

15 ngày trong 1 năm – Con từ 3- dưới 7 tuổi.

– Thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá, dân số.

* Mức hưởng: 75% tiền lương làm căn cư đóng BHXH trước khi nghỉ.

b. Chế độ trợ cấp thai sản.

* Đối tượng: Lao động nữ có thai, sinh con thứ nhất, thứ hai.

* Thời gian:

+ Có thai: 3 lần nghỉ đi khám thai, mỗi lần 1 ngày (Đặc biệt: 2 ngày 1 lần)

+ Sẩy thai: 20 ngày nếu thai dưới 3 tháng, 30 ngày nếu thai từ 3 tháng trở lên.

+ Trước và sau khi sinh:

– 4 tháng: làm việc trong điều kiện bình thường.

– 5 tháng: Đối với người làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại; làm việc theo chế độ 3 ca; nơi có hệ số phụ cấp KV = 0,5 và 0,7.

– 6 tháng: Đối với nơi có hệ số phụ cấp KV = 1; làm nghề hoặc công việc đặc biệt theo danh mục do BLĐ-TB-XH ban hành.

+ Sinh đôi trở lên: Tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày.

+ Sau khi sinh: Nếu con dưới 60 ngày tuổi mà bị chết thì mẹ được nghỉ 75 ngày; từ 60 ngày trở lên mà bị chết thì mẹ được nghỉ 15 ngày kể từ khi con chết.

+ Nghỉ thêm: Nếu được người sử dụng lao động chấp nhận nhưng không được BHXH.

+ Đi làm trước thời hạn: Nếu nghỉ 60 ngày trở lên tính từ khi sinh và có chứng nhận của thầy thuốc đủ sức khoẻ và báo trước 1 tuần lễ. Ngoài lương còn có BHXH.

+ Nuôi con nuôi sơ sinh: Hưởng trợ cấp thai sản khi con đủ 4 tháng tuổi.

* Mức hưởng BHXH: 100% tiền lương. Trợ cấp 1 lần: Bằng 1 tháng tiền lương đối với trường hợp sinh con lần đầu, lần thứ hai.

c. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

* Điều kiện:

+ Bị tai nạn trong giờ làm việc, tại nơi làm việc, kể cả làm việc ngoài giờ do yêu cầu của người sử dụng lao động.

+ Bị tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động.

+ Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc.

* Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiền lương từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật cho người lao động bị tai nạn. Sắp xếp công việc phù hợp và giới thiệu đi giám định sức khoẻ.

* Mức trợ cấp:

+ Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% sức khoẻ trở lên hoặc cho nhân thân người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động. Trong trường hợp do lỗi trực tiếp của người lao động thì cũng được trợ cấp ít nhất bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có)

+ Nếu suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động được trợ cấp ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương và phụ cấp.

+ Nếu suy giảm từ 10% đến 81% khả năng lao động thì cứ mỗi 1% suy giảm được trợ cấp ít nhất bằng 0,4 tháng tiền lương và phụ cấp, trong trường hợp không do lỗi của người lao động. Nếu do lỗi của người lao động thì được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức bồi thường quy định theo các tỷ lệ trên.

d. Chế độ trợ cấp hưu trí:

* Thời gian và tuổi đời:

– Lao động nữ đủ 55 tuổi và đủ 25 năm đóng bảo hiểm xã hội, lao động Nam đủ 60 tuổi và đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội được hưởng cùng tỷ lệ lương hưu hàng tháng tối đa do chính phủ quy định.

– Nam đủ 60 tuổi; nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH từ 20 năm trở lên

– Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên mà trong thời gian đó thuộc trường hợp:

+ Đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại.

+ Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp KV hệ số 0,7 trở lên.

+ Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, Lào (trước ngày 30/4/75), Campuchia

– Chế độ hưu trí thấp hơn:

+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 15 đến dưới 20 năm.

+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên và mất khả năng lao động từ 61% trở lên.

+ Lao động có ít nhất 15 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và đóng BHXH đủ 20 năm trở lên và suy giảm 61% trở lên.

* Mức hưởng:

– Đủ 15 năm trở lên: hưởng bằng 45% mức tiền lương bình quân, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng tính thêm 3% đối với lao động nữ và 2%. Mức hưởng tối đa là 75%.

– Mức thấp: Cứ mỗi năm thiếu trước tuổi nghỉ hưu giảm 2% (giảm 1% với các trường hợp đặc biệt).

– Mức trợ cấp thêm: Đóng BHXH trên 30 năm thì tính từ năm đóng thứ 31 trở lên, mỗi năm đóng hưởng trợ cấp một nửa tháng lương nhưng tối đa không quá 5 tháng.

– Nghỉ việc nhưng chưa đủ tuổi hưu thì trợ cấp một lần: Mỗi năm đóng BHXH hưởng một tháng lương hoặc chờ đến khi đủ tuổi.

* Căn cứ tính tiền lương: 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

e. Chế độ tử tuất:

* Đối tượng: Người lao động đang làm việc, nghỉ hưu, nghỉ việc chờ hưu trí, hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng mà chết.

* Mức hưởng: 8 tháng tiền lương tối thiểu.

* Đóng BHXH từ 15 năm trở lên và con dưới 15 tuổi, chồng, bố mẹ hết tuổi lao động thì hưởng tiền tuất hàng tháng bằng 40% tiền lương tối thiếu, nếu không có nguồn thu nhập nào khác và không có người nuôi dưỡng thì tính bằng 70% mức lương tối thiểu. Số lượng không quá 4 người.

* Được hưởng tiền tuất 1 lần: mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội hưởng bằng 0,5 tháng lương; tối đa không quá 12 tháng lương.

Thoả ước lao động tập thể

Thoả ước lao động tập thể (gọi tắt là thoả ước tập thể) là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động (mà đại diện là ban chấp hành công đoàn) và người sử dụng lao động (mà đại diện là giám đốc doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền) về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. Việc ký kết thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai.

Thoả ước tập thể có ý nghĩa bổ xung, nâng cao hợp đồng lao động cá nhân, tạo điều kiện cho người lao động được hưởng những điều kiện lao động tốt hơn những điều mà pháp luật đã quy định. Đồng thời nó còn có ý nghĩa tăng cường trách nhiệm của cả hai phía, điều hoà mâu thuẫn, ngăn ngừa tranh chấp trong quan hệ lao động.

Thoả ước tập thể được quy định chủ yếu ở chương V BLLĐ, nghị định 196/CP ngày 31.12.1996 của chính phủ và gồm các vấn đề như: các bên thoả ước, nội dung của thoả ước, thủ tục thương lượng, ký kết và đăng ký thoả ước, hiệu lực của thoả ước…

✅Tranh chấp lao động và đình công

Tranh chấp lao động

a. Khái niệm

Tranh chấp lao động được hiểu là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề.

Tương ứng với hai loại quan hệ lao động – Cá nhân và tập thể – là hai loại tranh chấp lao động: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể, và cũng có hai cơ chế giải quyết phù hợp. Các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động gồm: hội đồng hoà giải lao động ở cơ sở, hội đồng trọng tài lao động ở cấp tỉnh và toà án nhân dân.

b. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

– Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp;

– Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật;

– Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật;

– Có sự tham gia của đại diện công đoàn và đại diện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Việc giải quyết tranh chấp lao động tại các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn không giải quyết được và một hoặc hai bên có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động.

* Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động bên tranh chấp có quyền:

– Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện của mình để tham gia quá trình giải quyết tranh chấp;

– Rút đơn hoặc thay đổi nội dung tranh chấp;

– Yêu cầu thay người trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp, nếu có lý đo chính đáng cho rằng người đó không thể bảo đảm tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp.

* Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, các bên tranh chấp có nghĩa vụ:

– Cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức giải quyết

tranh chấp lao động;

– Nghiêm chỉnh chấp hành các thoả thuận đã đạt được: biên bản hoà giải thành, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của toà án nhân dân.

Cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu các bên tranh chấp lao động, các cơ quan, tổ chức, cá nhân quan cung cấp tài liệu, chứng cứ; trưng cầu giám định, mời nhân chứng và người có liên quan trong quá giải quyết tranh chấp lao động.

c. Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh lao động cá nhân

* Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, gồm:

– Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) nơi không có hội đồng hoà giải lao động cơ sở;

– Toà án nhân dân.

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở được thành lập trong các doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên, gồm số đại điện ngang nhau của bên người lao động và bên người sử đụng lao động. Số lượng thành viên của hội đồng do hai bên thoả thuận. Nhiệm kỳ của hội đồng hoà giải lao động cơ sở là hai năm. Đại diện của mỗi bên luân phiên làm chủ tịch và thư ký hội đồng. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở làm việc theo nguyên tắc thoả thuận nhất trí. Người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của hội đồng hoà giải lao động cơ sở.

* Trình tự hoà giải tranh chấp lao động cá nhân

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở tiến hành hoà chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu hoà giải. Tại phiên họp hoà giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại điện được uỷ quyền của họ. Hội đồng hoà giải lao động cơ sở đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét. Nếu hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì lập biên bản hoà giải thành có chữ ký của hai bên tranh chấp, của chủ tịch và thư ký hội đồng hoà giải lao động cơ sở. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp hoà giải không thành, hội đồng hoà giải lao động cơ sở lập biên bản hoà giải không thành, ghi ý kiến của hai bên tranh chấp và của hội đồng có chữ ký của hai bên tranh chấp, của chủ tịch và thư ký hội đồng. Bản sao biên bản phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày hoà giải không thành. Mỗi bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu toà án nhân dân cấp huyện xét xử tranh chấp. Hồ sơ gửi toà án nhân dân phải kèm theo biên bản hoà giải không thành.

Hoà giải viên lao động tiến hành việc hoà giải theo trình tự quy định của Bộ luật lao động đối với các tranh chấp lao động cá nhân tại các doanh nghiệp sử dụng dưới 10 người lao dộng, tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động, tranh chấp về thực hiện hợp đồng học nghề và phí dạy nghề. Hoà giải viên lao động phải tiến hành việc hoà giải chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hoà giải.

Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động hoà giải không thành, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp.

Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây có thể yêu cầu toà án nhân dân cấp huyện giải quyết, không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:

– Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chám dứt hợp đồng lao động;

– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.

Người lao động được miễn án phí trong các hoạt động tố tụng để đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, kể từ ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích cửa mình bị vi phạm được quy định: Một năm đối với các tranh chấp lao động quy định tại khoản 2 Điều 166 của Bộ luật lao động; Sáu tháng đối với các loại tranh chấp lao động khác.

d. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể

* Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể, gồm:

– Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện nơi không có hội đồng hoà giải lao động cơ sở;

– Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh;

– Toà án nhân dân.

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở quy định tại Điều 163 của Bộ luật lao động có thẩm quyền hoà giải cả những vụ tranh chấp lao động tập thể.

Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh gồm các thành viên chuyên trách và kiêm chức là đại diện của cơ quan lao động, đại điện của công đoàn, đại diện của những người sử dụng lao động và một số luật gia, nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội có uy tín ở địa phương. Thành phần hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh được hình thành theo số lẻ, tối đa không được quá chín người, do đại diện cơ quan lao động cấp tỉnh làm chủ tịch. Nhiệm kỳ của hội đồng trọng tài lao động là ba năm. Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo nguyên tắc đa số, bằng cách bỏ phiếu kín. Cơ quan lao động cấp tỉnh bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động của hội đồng trọng tài lao động.

* Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể.

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động tiến hành hoà giải chậm nhất bảy ngày, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu hoà giải. Tại phiên họp hoà giải, phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được uỷ quyền của họ.

Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để các bên xem xét.

Nếu hai bên chấp nhận phương án hoà giải thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của chủ tịch và thư ký hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc của hoà giải viên lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành.

Trong trường hợp hoà giải không thành, thì hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành, ghi ý kiến của hai bên tranh chấp và của hội đồng hoặc của hoà giải viên lao động, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của chủ tịch và thư ký hội đồng hoặc của hoà giải viên lao động; mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết.

Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hoà giải và giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể chậm nhất 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể, phải có mặt các đại diện được uỷ quyền của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở và đại diện cơ quan nhà nước hữu quan tham dự phiên họp. Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trong trường hợp hai bên nhất trí thì lập biên bản hoà giải thành, có chữ ký của hai bên tranh chấp, của chủ tịch hội đồng trọng tài lao động. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thoả thuận ghi trong biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp hoà giải không thành, thì Hội đồng trọng tài lao động giải quyết vụ tranh chấp và thông báo ngay quyết định của mình cho hai bên tranh chấp; nếu hai bên không có ý kiên thì quyết định đó đương nhiên có hiệu lực. Trong trường hợp tập thể lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài lao động, thì có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải quyết hoặc đình công. Trong trường hợp người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài lao dộng, thì có quyền yêu cầu toà án nhân dân xét lại quyết định của hội đồng trọng tài.

Việc người sử dụng lao động yêu cầu toà án nhân dân xét lại quyết định của hội đồng trọng tài không cản trở quyền đình công của tập thể lao động.

Trong khi hội đồng hoà giải lao động, hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành việc giải quyết tranh chấp lao động, thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia.

Đình công

Đình công là đỉnh cao của tranh chấp lao động tập thể, thể hiện ở sự ngừng việc của tập thể người lao động nằm gây sức ép buộc người sử dụng lao động phải đáp ứng những yêu sách nào đó. Hoà giải, thương lượng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cả hai bên nhằm ổn định quan hệ lao động là nguyên tắc xuyên suốt các quy định về giải quyết tranh chấp lao động và các cuộc đình công.

a. Điều kiện để cuộc đình công là hợp pháp

– Nó phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể và trong phạm vi quan hệ lao động

– Được những người lao động làm việc tại một doanh nghiệp tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp đó.

– Tập thể người lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài mà không khởi kiện để yêu cầu toà giải quyết.

– Tuân theo trình tự và thủ tục quy định về tiến hành đình công.

– Doanh nghiệp nơi tập thể tiến hành đình công không thuộc danh mục doanh nghiệp phục vụ công cộng và doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân hay an ninh quốc phòng do chính phủ quy định.

– Không vi phạm quyết định của thủ tướng chính phủ về việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công.

b. Trình tự thủ tục tến hành đình công

Sau khi có quyết định của hội đồng trọng tài về việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể mà hai bên không đồng ý và cũng không yêu cầu toà án giải quyết thì có thể đình công.

Thủ tục tiến hành cuộc đình công:

+ Khi có 1/3 số người trong tập thể lao động của 1 doanh nghiệp (nếu việc đình công được tiến hành trong doanh nghiệp) hoặc quá nửa số người lao động trong 1 bộ phận của doanh nghiệp (nếu việc đình công được tiến hành trong bộ phận đó) đề nghị việc đình công hoặc ban chấp hành công đoàn cơ sở khởi xướng việc đình công thì ban chấp hành công đoàn cơ sở phải tiến hành lấy ý kiến tập thể lao động của doanh nghiệp hoặc tập thể lao động trong bộ phận doanh nghiệp bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký để xác định số người tán thành đình công.

+ Việc đình công sẽ do ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định sau khi có quá nửa tập thể lao động tán thành đình công.

+ Trao bản yêu cầu và gửi bản thông báo về việc đình công: Sau khi quyết định đình công ban chấp hành công đoàn cơ sở cử đại diện nhiều nhất là 3 người để trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động đồng thời gửi một bản thông báo cho cơ quan lao động cấp Tỉnh và 1 bản thông báo cho liên đoàn lao động cấp Tỉnh. Việc này phải được tiến hành chậm nhất trước 3 ngày so với thời điểm dự định bắt đầu đình công

Nội dung của bản thông báo bao gồm:

– Nêu các vấn đề bất đồng

– Nội dung yêu cầu giải quyết

– Kết quả bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký tán thành đình công

– Thời điểm bắt đầu đình công

Nguồn: voer.edu